TÌNH HÌNH BỆNH LAO TẠI VIỆT NAM
- Tình hình dịch tễ bệnh lao tại Việt Nam
Theo báo cáo của Tổ chức Y tế thế giới (TCYTTG - WHO Report 2021 – Global Tuberculosis Control), mặc dù đã đạt được một số thành tựu đáng kể trong công tác chống lao trong thời gian qua, bệnh lao vẫn đang tiếp tục là một trong các vấn đề sức khoẻ cộng đồng chính trên toàn cầu. Đại dịch COVID-19 đã có tác động nghiêm trọng đến công tác chẩn đoán và điều trị lao trong những năm vừa qua. Toàn bộ những tiến độ đã đạt được tính đến năm 2019 đã bị chậm lại, đình trệ, hoặc là hoàn toàn đảo ngược, mục tiêu thanh toán bệnh lao toàn cầu đã bị chệch hướng. Tác động rõ ràng nhất chính là sự sụt giảm lớn về số bệnh nhân lao được phát hiện và thu nhận điều trị trên toàn cầu.
Việt Nam hiện vẫn là nước có gánh nặng bệnh lao cao, đứng thứ 11 trong 30 nước có số người bệnh lao cao nhất trên toàn cầu, đồng thời đứng thứ 11 trong số 30 nước có gánh nặng bệnh lao kháng đa thuốc cao nhất thế giới (báo cáo WHO Global TB Report 2022).
Bảng 1. Tình hình dịch tễ bệnh lao tại Việt Nam năm 2022
| Ước tính gánh nặng bệnh lao năm 2022 | Số lượng (nghìn người) | Tỷ lệ (trên 100.000 dân) |
| Số ca mắc mới | 172 (119-247) | 176 (121-251) |
| Số ca mắc mới (HIV+) | 4.3 (2.9-6.1) | 4,0 (3,0-6,0) |
| Số ca kháng thuốc mắc mới | 9.2(5.8-13) | 9,0 (6,0-13,0) |
| Số ca tử vong (HIV-) | 11 (7.6-15) | 11,0 (8,0-15,0) |
| Ước tính tỷ lệ % số ca lao kháng thuốc 2022 | Tỷ lệ | |
| Trong nhóm mắc mới | 4,5% (4,4-4,6) | |
| Trong nhóm điều trị lại | 15% (14-16) | |
| Tỷ lệ bao phủ toàn dân | Tỷ lệ | |
| Tỷ lệ bệnh nhân lao được điều trị | 59% (42-86) | |
| Tỷ lệ bệnh nhân phải đối mặt với chi phí thảm họa | 63% (58-67) | |
| Tỷ suất tử vong lao (số ca tử vong/số mắc mới) | 8% (5-13) | |
| Số ca được phát hiện trong năm 2022 | 103.804 | |
| Số ca được phát hiện trong 6T năm 2023 | 51.254 | |
* Nguồn: Draft Vietnam Country Profile 2023 – WHO
- Công tác phát hiện, điều trị và quản lý bệnh nhân lao 6 tháng đầu năm 2023
Bảng 2. Kết quả phát hiện bệnh nhân lao 6 tháng đầu năm 2023, toàn quốc
| Năm | Lao phổi có bằng chứng VK | Lao phổi không có bằng chứng VK | Lao ngoài phổi | Không rõ tiền sử | Tổng cộng | ||
| Mới | Tái phát | Điều trị lại | |||||
6 tháng 2023 | 31.705 | 2.907 | 586 | 7.044 | 8.968 | 44 | 51.254 |
| % | 61,86 | 5,67 | 1,14 | 13,74 | 17,50 | 0,09 | 100 |
6 tháng 2022 | 29.359 | 2.526 | 411 | 8.347 | 8.330 | 26 | 48.999 |
| % | 59,92 | 5,16 | 0,84 | 17,04 | 17,00 | 0,05 | 100 |
SS số lượng | 2.346 | 381 | 175 | -1.303 | 638 | 18 | 2.255 |
SS TL % | 1,94 | 0,52 | 0,30 | -3,29 | 0,50 | 0,03 | 0,00 |
SS TL/SL | 7,99 | 15,08 | 42,58 | -15,61 | 7,66 | 69,23 | 4,60 |
* SS = so sánh
Tổng số bệnh nhân lao các thể được phát hiện trong 6 tháng đầu năm 2023 là 51.254 bệnh nhân, tỷ lệ phát hiện lao các thể trên 100.000 dân là 52/100.000 dân. Trong đó có 31.598 bệnh nhân lao phổi có bằng chứng vi khuẩn, chiếm 68,7%, tỷ lệ phát hiện lao phổi có bằng chứng vi khuẩn là 35,7/100.000 dân. Tỷ lệ lao phổi không có bằng chứng vi khuẩn trên tổng số bệnh nhân là 13,7%, lao ngoài phổi là 17,5%.
Số bệnh nhân lao phổi có bằng chứng vi khuẩn mới phát hiện trong 6 tháng đầu năm 2023 đã tăng đáng kể so với cùng kỳ năm 2022, với 2.346 ca bệnh, tương đương với 8%. Tổng số bệnh nhân lao phổi có bằng chứng vi khuẩn tăng 2.902 bệnh nhân, tương đương với 9%. Số bệnh nhân lao phổi không có bằng chứng vi khuẩn giảm 1303 trường hợp (15,6%), số bệnh nhân lao ngoài phổi tăng 638 trường hợp (7,7%). Những con số này đều cho thấy nỗ lực rất lớn của CTCLQG để phục hồi lại hoạt động phát hiện trên toàn quốc, nhằm đáp ứng được chỉ tiêu đã cam kết với nhà tài trợ. Trong 6 tháng đầu năm 2023, tổng số bệnh nhân được phát hiện đã cao hơn so với cùng kỳ năm 2022, 2021 và cả cùng kỳ năm 2020 (47.210), thời điểm Việt Nam chưa bị ảnh hưởng nặng nề của dịch COVID-19. Con số này cho thấy CTCLQG đang đi đúng hướng và cho thấy khả năng cũng như tiềm năng của hệ thống chống lao, và dự báo trong năm 2023, việc phát hiện vượt qua kết quả của năm 2022 là hoàn toàn khả thi.
So sánh với chỉ tiêu đặt ra cho hoạt động phát hiện cả năm 2023, với chỉ số cam kết với Quỹ Toàn Cầu, tỷ lệ phát hiện bệnh nhân lao phổi mới và tái phát có bằng chứng vi khuẩn học trên toàn quốc 6 tháng đầu năm 2023 là 35,1/100.000 dân, đạt 41% chỉ tiêu kế hoạch phát hiện cả năm (85,6/100.000 dân) và tỷ lệ phát hiện lao các thể 6 tháng đầu năm là 51,9/100.000 dân, đạt 37,8% chỉ tiêu kế hoạch phát hiện cả năm (137/100.000 dân).
-
Hoạt động điều trị
Bảng 3. Kết quả điều trị lao phổi có bằng chứng vi khuẩn học mới và tái phát
| Năm | Số BN đánh giá | Kết quả điều trị | ||||||
| Khỏi | HTĐT | Chết | Thất bại | Không theo dõi được | Không đánh giá | |||
6 tháng 2022 | Số BN | 30581 | 24540 | 3096 | 830 | 215 | 1048 | 852 |
| % | 80,2 | 10,1 | 2,7 | 0,7 | 3,4 | 2,8 | ||
6 tháng 2021 | Số BN | 28764 | 21944 | 4412 | 740 | 168 | 755 | 745 |
| % | 76,3 | 15,3 | 2,6 | 0,6 | 2,6 | 2,6 | ||
Số bệnh nhân lao có bằng chứng vi khuẩn học mới và tái phát được thu nhận và đánh giá kết quả trong 6 tháng đầu năm 2022 là 30.581 bệnh nhân, tăng 1.817 bệnh nhân so với cùng kỳ năm 2021. Tỷ lệ điều trị thành công đạt 90,3%, đạt chỉ tiêu của WHO tuy nhiên thấp hơn chỉ tiêu của QTC cho lô bệnh nhân năm 2022 (92%). Tỷ lệ này lại thấp hơn so với cùng kỳ năm 2021 (91,6%).
Mặc dù vậy, khi xét đến chi tiết về tỷ lệ điều trị khỏi, kết quả của 6 tháng đầu năm 2022 là 80,2%, cao hơn so với lô bệnh nhân năm 2021, tuy nhiên vẫn thấp hơn so với tỷ lệ khỏi cùng kỳ năm 2020 (84,9%), vào thời điểm trước COVID-19. Bên cạnh đó, tỷ lệ hoàn thành điều trị cũng đã giảm so với cùng kỳ năm 2021 (10,1% so với 15,3%). Công tác điều trị của CTCLQG năm 2021 đã bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi dịch COVID-19 do giãn cách xã hội và những thiếu xót trong việc cung cấp dịch vụ điều trị trong thời điểm xảy ra đại dịch, tuy nhiên sang đến năm 2022 thì tình hình cũng đã dần được khắc phục, nên có thể coi đây là một kết quả tốt về mặt công tác điều trị.
-
Hoạt động quản lí bệnh nhân lao kháng thuốc
Bảng 4. Tình hình sàng lọc, thu nhận và thực hiện chỉ tiêu
| Các chỉ số | Chỉ tiêu 2023 | Kết quả đạt được (6 tháng 2023) |
| Tỷ lệ % thu nhận/phát hiện | 95% | 92 % (1.632/1.765) |
| Số BN Lao kháng thuốc được thu nhận | 4.963 | 1.632 (32,9%) |
Tỷ lệ điều trị thành công (Lô BN đăng ký Q1-2/2021) | 78 % | 73% |
Năm 2023, chỉ tiêu thu nhận bệnh nhân lao kháng thuốc ở mức 4.963 bệnh nhân là cao so với số phát hiện hàng năm trước đây của CTCLQG. Các hoạt động quản lý lao kháng thuốc vẫn được tiếp tục triển khai với việc mở rộng tiếp cận phác đồ ngắn hạn sử dụng thuốc uống bao gồm thuốc mới Bedaquiline (Bdq). Năm 2023 ghi nhận nỗ lực của các đơn vị và toàn bộ hệ thống của CTCLQG trong công tác tăng cường phát hiện và điều trị bệnh nhân lao và lao kháng thuốc, tuy nhiên để đạt được chỉ tiêu đề ra vẫn cần nhiều nỗ lực hơn nữa, trong đó đảm bảo cung ứng đầy đủ sinh phẩm chẩn đoán và thuốc điều trị là một trong những yêu cầu tiên quyết. Theo báo cáo đến hết tháng 6/2023, chỉ tiêu thu nhận người bệnh lao kháng thuốc chỉ đạt mức 32,9% so với chỉ tiêu kế hoạch. Tỷ lệ điều trị thành công của lô bệnh nhân 2 quý đầu năm 2021 là 73%, còn thấp hơn chỉ tiêu đề ra (78%) và ghi nhận tỷ lệ bỏ trị còn cao (12%) trong khi phác đồ chuẩn ngắn hạn đã được mở rộng trên cả nước, nguyên nhân có thể một phần do việc quản lý điều trị bệnh nhân lao kháng thuốc gặp nhiều khó khăn trong giai đoạn dịch Covid-19.
Song song với các hoạt động sàng lọc và thu nhận điều trị thường quy, hiện nay CTCLQG đang chuẩn bị các bước để tiếp cận phác đồ điều trị lao kháng thuốc cập nhật theo khuyến cáo mới (2022) của WHO.