DINH DƯỠNG CHO NGƯỜI BỆNH LAO
1. Tổng quan về bệnh lao
- Trên thế giới, lao phổi là một trong 10 nguyên nhân hàng đầu gây tử vong. Ước tính năm 2017, bệnh lao gây ra 1,3 triệu ca tử vong trong số những người âm tính với HIV và có thêm 300.000 ca tử vong ở người bệnh lao đồng mắc HIV. Tỉ lệ mắc mới ước tính khoảng 10 triệu ca trong đó 5,8 triệu ca là nam giới, 3,2 triệu ca là nữ giới và 1 triệu ca là trẻ em. Bệnh lao có mặt ở tất cả các quốc gia và mọi nhóm tuổi, nhưng nhìn chung hay gặp ở độ tuổi trưởng thành. Năm 2017, tỉ lệ mắc lao khoảng 90% là người trưởng thành, 64% là nam và 9% là những người nhiễm HIV.
- Số người tử vong vì bệnh lao ước tính đã giảm 29% từ năm 2000 (1,8 triệu) đến năm 2017 (1,3 triệu). Số ca tử vong do lao ở những người mắc HIV đã giảm 44% từ năm 2000 (534.000 người) đến năm 2017 (300.000 người). Tỷ lệ tử vong do lao (trên 100.000 người) đang giảm ở mức khoảng 3% mỗi năm. Tỷ lệ tử vong giảm nhanh nhất trong khoảng 5 năm (giai đoạn 2013-2017) là ở khu vực châu Âu (11%) và khu vực Đông Nam Á (4%) mỗi năm. Tỷ lệ mắc lao mới trên toàn thế giới đang giảm khoảng 2% mỗi năm. Sự giảm nhanh nhất (giai đoạn 2013-2017) là ở khu vực châu Âu (5% mỗi năm) và châu Phi (4% mỗi năm).
- Ở Việt Nam hiện nay, bệnh lao vẫn là một trong các bệnh nhiễm trùng phổ biến. Việt Nam là một nước thuộc khu vực Tây Thái Bình Dương. Đây là khu vực có gánh nặng bệnh lao đứng thứ 3 trên toàn cầu với số người bệnh lao chiếm 18%. Việt Nam đứng thứ 16 trong 30 nước có số người mắc bệnh lao cao nhất trên toàn cầu. Theo báo cáo của WHO năm 2018, số ca mắc lao mới và lao tái phát ở Việt Nam là 102.725, trong đó có 80% mắc lao phổi. Trong năm 2017, số người không mắc HIV tử vong do lao là 12.000 người tương đương với 12 trường hợp trên 100.000 dân. Số người tử vong do lao có nhiễm HIV là 840 người tương đương 0,88 trường hợp trên 100.000 dân.
2. Định nghĩa và phân loại bệnh lao
- Bệnh lao là một loại bệnh truyền nhiễm gây ra bởi vi khuẩn lao có tên khoa học là Mycobacterium Tuberculosis.
- Phân loại bệnh lao theo vị trí giải phẫu gồm có:
- Lao phổi: là thể bệnh gặp nhiều nhất trong bệnh học lao, chiếm khoảng 80% tổng số bệnh lao. Ở nước ta hàng năm theo ước tính có 85 trường hợp lao phổi có vi khuẩn trong đờm bằng phương pháp nhuộm soi kính trực tiếp trên 100.000 dân.
- Lao ngoài phổi: là vi khuẩn lao gây tổn thương ở các cơ quan bên ngoài phổi như màng não, màng bụng, màng phổi, da, xương, khớp, hạch, cơ quan sinh dục và tiết niệu,…
3. Các dấu hiệu, triệu chứng của bệnh lao
- Dấu hiệu được cho là quan trọng nhất của người bệnh là bị ho kéo dài liên tục trên 2 tuần, có thể là ho khan, ho có đờm, thậm chí trong một số trường hợp nặng có thể ho ra máu.
- Có các biểu hiện sốt nhẹ về chiều.
- Người bệnh cảm thấy cơ thể mệt mỏi, chán ăn, gầy sút cân nhanh chóng.
- Cảm thấy đau tức ngực, khó thở.
- Có hiện tượng đổ mồ hôi trộm vào ban đêm.
Hình 1. Triệu chứng lao phổi
4. Các yếu tố nguy cơ và nguyên nhân
- Bệnh lao chỉ có thể lây truyền từ người bệnh sang người lành với nguồn lây truyền bệnh lao là người mắc bệnh lao phổi. Khi người bệnh ho, khạc, hắt hơi… sẽ làm phát tán ra môi trường những giọt bắn nước bọt nhỏ li ti có chứa vi khuẩn lao. Vi khuẩn lao sẽ xâm nhập vào cơ thể người lành thông qua đường hô hấp khi hít phải những giọt bắn có chứa vi khuẩn lao đó.
- Lao phổi hay gặp ở người trưởng thành, trẻ em có thể gặp ở trẻ vị thành niên trung bình 10-14 tuổi, do đây là lứa tuổi có nhiều thay đổi về nội tiết và người cao tuổi do giảm sức đề kháng nói chung. Một số yếu tố thuận lợi đối với bệnh lao phổi như:
- Nguồn lây: Những người tiếp xúc đặc biệt trực tiếp và lâu dài với nguồn lây thì càng dễ bị bệnh.
- Một số bệnh như bệnh bụi phổi, bệnh phổi do siêu vi, bệnh đái tháo đường, loét dạ dày – tá tràng, nhiễm HIV hoặc trạng thái cơ thể đặc biệt: phụ nữ có thai, người bệnh suy dinh dưỡng, người nghiện rượu, người cao tuổi, trẻ em,… cũng là điều kiện thuận lợi dễ mắc bệnh lao.
- Điều kiện kinh tế xã hội kém, chiến tranh, trạng thái tinh thần căng thẳng,… đều là yếu tố thuận lợi cho sự phát sinh và phát triển bệnh lao phổi.
- Trẻ không tiêm vaccin BCG có nguy cơ mắc bệnh cao hơn trẻ đã tiêm.
5. Mức độ nguy hiểm của bệnh lao phổi
- Đa số các trường hợp bệnh lao phổi diễn biến từng đợt, nếu không điều trị kịp thời thì các triệu chứng ngày càng nặng lên và có thể có các biến chứng:
- Ho ra máu: Là biến chứng thường gặp trên lâm sàng. Số lượng máu có thể nhiều hoặc ít, trường hợp ho ra máu nhiều có thể tử vong, vì vậy đây là cấp cứu cần xử trí kịp thời.
- Tràn khí màng phổi: Do vỡ lao hang hoặc cỡ phế nang bị giãn. Người bệnh đau ngực đột ngột, khó thở. Đây cũng là cấp cứu cần xử trí kịp thời.
- Bội nhiễm: Người bệnh có triệu chứng cấp tính: sốt cao, ho nhiều đờm, xét nghiệm máu bạch cầu tăng, tăng tỷ lệ bạch cầu đa nhân trung tính, cần phối hợp thêm kháng sinh.
- Lao nhiều bộ phận trong cơ thể: vi khuẩn lao theo đường máu và bạch huyết gây lao ở nhiều bộ phận: hạch, xương khớp, các màng, nặng nhất là lao màng não có thể gây tử vong.
- Tâm phế mạn tính: Do giảm diện tích phổi tham gia hô hấp, người bệnh bị suy hô hấp kéo dài, dẫn đến tâm phế mạn tính, tử vong trong bệnh cảnh suy tim, suy hô hấp.
6. Chế độ dinh dưỡng điều trị bệnh lao
6.1. Vai trò của dinh dưỡng đối với bệnh lao
- Suy dinh dưỡng là một yếu tố nguy cơ của bệnh lao vì suy dinh dưỡng được coi là yếu tố tác động gây ra sự suy giảm miễn dịch của người bệnh.
- Một số dấu hiệu và triệu chứng của bệnh lao có liên quan đến dinh dưỡng như: suy mòn, thiếu máu, mất khối cơ và mỡ. Bệnh lao dẫn đến chán ăn, suy nhược cơ thể. Sự thiếu hụt dinh dưỡng liên quan đến việc tăng nguy cơ và mức độ nghiêm trọng của bệnh lao do ảnh hưởng xấu đến cơ chế miễn dịch của cơ thể. Ngoài ra, suy dinh dưỡng ở những người bệnh mắc lao có thể làm giảm hiệu quả dược lực học của thuốc điều trị vi khuẩn lao, kéo dài thời gian điều trị bệnh.
- Nhu cầu dinh dưỡng ở người bệnh lao cao hơn bình thường nhằm bù đắp cho quá trình chống đỡ bệnh tật và tái tạo tổ chức bị tổn thương. Hơn nữa, người bị lao thường mệt mỏi chán ăn, gầy sút cân, giảm hấp thu chất dinh dưỡng kể cả vi chất. Do đó, cải thiện tình trạng dinh dưỡng của người bệnh góp phần làm tăng hiệu quả điều trị bệnh lao, giúp người bệnh mau chóng phục hồi.
6.2. Chế độ dinh dưỡng
- Chế độ dinh dưỡng cho người bệnh mắc bệnh lao là chế độ ăn giàu năng lượng, giàu protein, giàu acid béo omega 3, giàu vitamin và khoáng chất.
- Năng lượng: 35 - 40 Kcal/kg cân nặng/ngày.
- Protein: 1,5 - 2 g/kg cân nặng/ngày.
- Lipid: 20 - 30% tổng năng lượng. Giàu acid béo omega 3.
- Glucid: tỷ lệ phù hợp với tổng năng lượng ( 55 - 60%)
- Nước: 1,5 - 2 lít/ngày. Nếu bệnh nhân mắc kèm các bệnh suy thận, suy tim, nhu cầu nước phụ thuộc tình trạng bệnh.
- Cung cấp đủ vitamin và chất khoáng.
- Chia nhỏ bữa ăn trong ngày, từ 4 - 6 bữa.
- Tăng đậm độ năng lượng trong bữa ăn bằng cách sử dụng thực phẩm giàu năng lượng như dầu, mỡ hoặc sử dụng enzym để hóa lỏng thực phẩm.
- Đối với bệnh nhân suy dinh dưỡng nặng cần nuôi ăn từ từ và tăng dần.
- Nếu người bệnh lao có bệnh đồng mắc cần phối hợp chế độ dinh dưỡng phù hợp.
6.3. Lựa chọn thực phẩm
- Thực phẩm nên dùng:
- Ưu tiên lựa chọn thực phẩm giàu đạm có giá trị sinh học cao: thịt, cá, trứng, sữa.
- Thực phẩm giàu acid béo omega-3: cá thu, cá trích, cá hồi,…
- Thực phẩm giàu kẽm: hải sản (hàu, ghẹ,…), đậu hà lan, lòng đỏ trứng gà, thịt lợn nạc...
- Thực phẩm giàu sắt: nấm hương, thịt bò, gan,…
- Thực phẩm chứa nhiều selen (có vai trò loại bỏ các chất độc hại): đậu tương, vừng, rau muống, cải bắp,…
- Thực phẩm giàu Vitamin A (cà rốt, đu đủ, rau lá xanh đậm, dầu cá, gan lợn), Vitamin E (hạt dẻ, rau cải xanh, quả bơ, kiwi), Vitamin C (ổi, cam, dâu tây, nho đen) giúp cơ thể tăng cường hệ thống miễn dịch.
Hình 2. Những thực phẩm nên dùng
- Thực phẩm không nên hoặc hạn chế dùng:
- Đồ ăn cay nóng, kích thích như bột hạt cải, gừng, ớt vì các loại này sẽ khiến tình trạng ho nặng và kéo dài hơn, thậm chí dẫn đến ho ra máu.
- Bia rượu, các chất kích thích, cafein, trà đặc, không hút thuốc lá vì sẽ làm giảm tác dụng điều trị và tăng tác dụng phụ của thuốc lao.
Hình 3. Những thực phẩm không nên dùng
6.4. Thực đơn mẫu
- Năng lượng 1700 – 1800 kcal, chất đạm: 90 gram, chất béo: 40 gram, chất bột đường: 265 gram.
- Tỷ lệ các chất sinh năng lượng Protein:Lipid:Glucid (%) = 20:20:60.
| Bữa | Tên món ăn | Trọng lượng thực phẩm (gram) |
| Sáng | Phở thịt bò | |
| Bánh phở | 200 | |
| Thịt bò | 50 | |
| Hành lá | 10 | |
| Trưa | Cơm thịt lợn với đậu rán | |
| Cơm gạo tẻ: 2 lưng bát cơm (gạo tẻ) | 100 | |
| Thịt lợn sốt cà chua: 10 miếng vừa | 70 | |
| Đậu phụ rán: 1 bìa dài | 65 | |
| Bí xanh luộc: 1 bát con | 200 | |
| Canh rau ngót | 200 | |
| Chuối: 1 quả | 120 | |
| Tối | Cơm cá với trứng rán | |
| Cơm gạo tẻ: 2 lưng bát cơm (gạo tẻ) | 100 | |
| Cá chép rán: 1 khúc vừa | 100 | |
| Trứng rán: 1 quả | 50 | |
| Rau muống luộc: 2 miệng bát con | 200 | |
| Canh rau muống | 200 | |
| Cam: 1 quả | 250 | |
7. Tài liệu tham khảo
- WHO (2018), Global tuberculosis report 2018
- Trần Văn Sáng (2007), Bệnh học Lao, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội.
- Miller L.G., Asch S.M., Yu E.I., et al. (2000). A Population-Based Survey of Tuberculosis Symptoms: How Atypical Are Atypical Presentations?. Clin Infect Dis, 30(2), 293–299.
- Lê Danh Tuyên, Nguyễn Thị Lâm, Lương Ngọc Khuê (2016), Hướng dẫn Chế độ ăn bệnh viện, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội.
- WHO (2013), Nutritional care and support for patient with tuberculosis 2013
KHOA DINH DƯỠNG VÀ TIẾT CHẾ
|